Nghiên cứu ảnh hưởng của giảm tỷ lệ Protein khác nhau trong khẩu phần có cân đối một số Axit amin thiết yếu tới việc đào thải nitơ và lưu huỳnh trong phân và nước tiểu của Lơn ngoại nuôi thịt

Thí nghiệm nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ protein thô của khẩu phần ăn được bổ sung các axit amin tổng hợp đến việc đào thải nitơ và lưu huỳnh trong phân, nước tiểu. Lợn thí nghiệm tổng số 12 lợn cái nuôi riêng biệt trong cũi được thiết kế chia làm 6 lô thí nghiệm, lặp lại 2 lần, khối lượng ban đầu đưa vào thí nghiệm 20 kg/con. Trên mỗi cũi có máng ăn và vòi cung cấp nước uống tự động. Các cũi được sắp xếp liền nhau, trong một khu độc lập, được đảm bảo tương đối hợp lý về chế độ tiểu khí hậu như nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng...Lợn thí nghiệm ăn theo bữa và tiến hành thu phân, nước tiểu hàng ngày. Thời gian bắt đầu thí nghiệm là 6 ngày khi lợn đạt 30 kg, 3 ngày đầu tiền thí nghiệm cho ăn khẩu phần cơ sở (ngày 1,2,3), 3 ngày sau ăn khẩu phần thí nghiệm và thu phân, nước tiểu trong 3 ngày tiếp theo (ngày 4, 5, 6). Sau khi thu phân và nước tiểu, tiến hành đổi khẩu phần, mỗi lần thí nghiệm mỗi con sẽ được ăn 3 khẩu phần khác nhau và khẩu phần được lặp lại 3 lần. Khẩu phần thí nghiệm được tính toán đảm bảo 3200 kcal ME và 10 gam, 11 gam lysine /kg thức ăn. Tỷ lệ protein thô giảm dần từ 18-17-16% tương ứng với các lô 1,2,3,4,5,6. Sử dụng các axit amin tổng hợp L- lysine, D,L-methionine, L-threonine bổ sung để cân đối 3 axit amin thiết yếu dựa trên mức lysine theo đề xuất của ARC 1981[1], Wang, Fuller 1989[11], Cole 1992[3], Baker, Chung 1992[3]. Kết quả thí nghiệm cho thấy, các khẩu phần có tỷ lệ protein thô 18 -17-16% được cân một số axit amin thiết yếu làm tỷ lệ tiêu hóa nitơ toàn phần trong cơ thể lợn lai ngoại từ 4,37 – 13,73% và giảm lượng nitơ đào thải trong phân từ 8,56% đến 23,76%; từ 9,67% đến 18,14% trong nước tiểu, đồng thời làm giảm lượng lưu huỳnh qua phân từ 13,82 – 15,45% và qua nước tiểu là 11,48 – 12,25% khi giảm khẩu phần từ 18-17-16% protein với mức lysine là 11, 10 g/kg thức ăn. Trong chăn nuôi lợn ngoại có hiệu quả và bền vững cần sử dụng khẩu phần ăn có tỷ lệ protein hợp lý có cân đối một số axit amin sẽ làm giảm ô nhiễm môi trường.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây ngành chăn nuôi lợn ngày càng phát triển, theo số liệu của Tổng cục chăn nuôi tính đến tháng 10/2011, tổng đàn lợn nước ta là 27,2 triệu con, tăng 3,3% so với tháng 4/2011. Năm 2012 GDP  ngành chăn nuôi tăng 1,4%, năm 2013 tổng sản lượng thịt hơi là 4,33 triệu tấn, tăng 1,5% so với năm trước đó.
Hiện nay, chăn nuôi lợn ở nước ta không chỉ dừng lại ở chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình mà đã phát triển mạnh chăn nuôi trang trại, chăn nuôi các giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng nhanh mà tỷ lệ nạc cao, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Khi chăn nuôi với số lượng lớn thì đòi hỏi người chăn nuôi phải nắm bắt và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, an toàn và bền vững. Trong đó chi phí thức ăn cho chăn nuôi chiếm tới 75 - 80% giá thành sản phẩm, vì vậy cần phải sử dụng thức ăn có chất lượng, hiệu quả. Để đánh giá chất lượng thức ăn chủ yếu dựa vào mức năng lượng tiêu hóa và protein tổng số trong thức ăn. Vấn đề sử dụng protein luôn là chủ đề được các nhà khoa học và nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi chú ý. Vì ở từng giai đoạn phát triển khác nhau lợn có nhu cầu về protein là khác nhau, hay chính là nhu cầu về axit amin khác nhau. Sử dụng axit amin hiệu quả là phải có đủ axit amin thiết yếu và có sự cân đối về tỷ lệ các axit amin thiết yếu đó. Nếu khẩu phần cung cấp thiếu các axit amin và tỷ lệ không hợp lý thì lợn chậm lớn, ảnh hưởng đến sức sản xuất và hiệu quả kinh tế chăn nuôi. Nếu trong khẩu phần cho lợn thừa lượng protein hoặc không cân đối tỷ lệ axit amin thiết yếu sẽ dẫn đến việc thải nitơ ra ngoài môi trường qua phân và nước tiểu, đây chính là yếu tố gây ô nhiễm môi trường, một vấn đề mà người chăn nuôi đang phải khắc phục để phù hợp với nguyên tắc bảo vệ môi trường. Trong khi đó giá của các loại thức ăn đạm sử dụng trong chăn nuôi như bột cá, khô đậu tương… ngày một tăng cao, gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi lợn. Cho nên cần nghiên cứu giảm mức protein trong khẩu phần để giảm giá thành và hạn chế ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, khi giảm lượng protein trong khẩu phần thì đồng thời làm giảm các axit amin có trong đó. Do vậy ta phải bổ sung cân đối các axit amin vào khẩu phần, quan trọng nhất là các axit amin thiết yếu đáp ứng nhu cầu của lợn. Vì vậy việc giảm mức protein trong thức ăn kết hợp cân đối thêm các axit amin thiết yếu là cách tốt nhất giải quyết vấn đề dinh dưỡng axit amin cho lợn đồng thời giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi lợn.  Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của giảm tỷ lệ protein trong khẩu phần có cân đối một số axit amin thiết yếu với việc đào thải nitơ và lưu huỳnh trong phân, nước tiểu của lợn ngoại nuôi thịt”.
2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tổng số 12 lợn lai 3 máu của cặp lai giữa lợn đực lai (Pietrain x Landrace) x cái lai (Landrace x Yorkshire) có khối lượng ban đầu bình quân 20 kg/con, lặp lại 2 lần. Lợn thí nghiệm nuôi riêng biệt trong cũi được thiết kế cho thí nghiệm. Trên mỗi cũi có máng ăn và vòi cung cấp nước uống tự động. Các cũi được sắp xếp liền nhau, trong một khu độc lập, được đảm bảo tương đối hợp lý về chế độ tiểu khí hậu như nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng...
2.2. Vật liệu nghiên cứu:
6 khẩu phần ăn thí nghiệm có cùng mức năng lượng trao đổi 3200 Kcal/kg thức ăn và được chia làm 2 nhóm. Nhóm 1 có mức lysine là 11 gam/kg TĂHH và có protein tổng số giảm lần lượt là: 180-170-160gam/kg (KP 1,2,3). Nhóm 2 có mức lysine là 10 gam/kg TĂHH và có protein tổng số là 180-170-160 gam/kg (KP 4,5,6). Các axit amin như methionine + cystin, threonine được cân đối đủ theo tỷ lệ tương ứng với lysine như hướng dẫn của ARC, 1981[1], Wang, Fuller, 1989[11], Cole, 1992[3], Baker and Chung,1992[2]. Công thức thức ăn thí nghiệm được xây dựng trên phần mềm OPTIMIX.
Nguyên liệu để phối hợp khẩu phần thí nghiệm gồm ngô đỏ, khô đỗ tương, cám bột, bột cá, dầu thực vật, L-lysine, D,L- methionine, L-tryptophan, L-threonine, premix vitamin + khoáng vi lượng, dicalciphosphate và bột đá. Trong đó ngô đỏ, khô đỗ tương  và bột cá được rang chín thơm trước khi phối trộn. Các nguyên liệu thức ăn được dự trữ đầy đủ trong suốt thời gian thí nghiệm và được phân tích xác định thành phần hoá học, hàm lượng a xit amin trên các thiết bị tại Viện Khoa học sự sống- Đại học Thái Nguyên để làm căn cứ tính toán phối hợp khẩu phần. Thức ăn được trộn theo nguyên tắc vết dầu loang, sau đó trộn đều bằng tay nhiều lần và trộn trên máy trên dây chuyền công nghệ nhỏ của hộ gia đình. Thức ăn thành phẩm có dạng bột.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp thử mức tiêu hóa bằng kỹ thuật thu phân và nước tiểu ở thí nghiệm trên cũi theo sơ đồ ở bảng 1:
Bảng 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm.

Giai đoạn Lợn số 1 Lợn số 2 Lợn số 3 Lợn số 4 Lợn số 5 Lợn số 6
Tiền thí nghiệm (2 tuần) KPCS KPCS KPCS KPCS KPCS KPCS
Đợt 1 KP1 KP 2 KP 3 KP4 KP5 KP6
Đợt 2 KP 2 KP 3 KP1 KP5 KP6 KP4
Đợt 3 KP 3 KP1 KP 2 KP6 KP4 KP5

 - Giai đoạn tiền thí nghiệm: Lợn nuôi từ lúc 20 – 30 kg: Mục đích để lợn quen dần với điều kiện nuôi trên cũi. Lợn được ăn cùng một loại thức ăn, theo chế độ ăn tự do. Tiến hành xác định lượng thức ăn mà mỗi lợn tiêu thụ để xây dựng định mức thức ăn cho giai đoạn thí nghiệm tiếp theo, đồng thời theo dõi chặt chẽ chế độ đào thải phân và nước tiểu để có kế hoạch thu phân và nước tiểu.
            - Giai đoạn thí nghiệm: Bắt đầu khi lợn đạt khối lượng 30 kg. Tiến hành cho lợn ăn khẩu phần thí nghiệm trong vòng 6 ngày, tiến hành thu phân và nước tiểu trong ba ngày tính từ ngày thứ 4-5-6. Sau khi thu phân và nước tiểu, tiến hành đổi khẩu phần theo sơ đồ bố trí thí nghiệm định sẵn.
- Thu toàn bộ lượng phân thải ra trong 24 giờ/ngày, từ 7 giờ sáng ngày hôm trước tới 7 giờ sáng ngày hôm sau và trong 3 ngày liên tục. Lượng phân thu được của mỗi ngày bảo quản trong tủ lạnh, hết ngày thu phân 3 ngày thì trộn đều tất cả lượng phân đã thu và lấy mẫu khoảng 200g/con cho vào túi nilon bảo quản ở điều kiện lạnh 40C. Cuối mỗi đợt lấy mẫu phân của mỗi lợn thí nghiệm đưa vào làm khô trong điều kiện chân không và nhiệt độ - 860C, sau đó đưa đi phân tích lượng lưu huỳnh và nitơ.
- Đồng thời với thu phân, nước tiểu của mỗi con lợn được thu hàng ngày rồi bảo quản trong can nhựa có cho trước 50ml H2SO4 50 % để giữ ổn định pH nước tiểu ≤ 2. Đến cuối đợt thí nghiệm cân tổng số nước tiểu thu được/con, lắc đều nước tiểu trong can nhựa rồi lấy mẫu khoảng 5 % khối lượng để phân tích lượng tích nitơ và lưu huỳnh trên cùng thiết bị ở trên.
   - Phương pháp phân tích sử dụng trong thí nghiệm:
+ Phân tích thành phần hóa học thức ăn nguyên liệu về các chỉ tiêu: Vật chất khô, lipit thô, protein thô, xơ thô, khoáng toàn phần theo các TCVN tương ứng.
+ Phân tích axit amin trong thức ăn nguyên liệu trên HPLC
+ Phân tích nitơ, lưu huỳnh trong phân và nước tiểu theo phương pháp Dumar trên thiết bị CNS của hãng LECO (Mỹ).
Căn cứ vào kết quả phân tích hàm lượng nitơ, lưu huỳnh trong chất thải (phân và nước tiểu) khi đem so sánh với hàm lượng nitơ, lưu huỳnh trong thức ăn ăn vào, tính được tỷ lệ  % nitơ, lưu huỳnh thải ra trong từng khẩu phần có mức protein, axit amin khác nhau cũng như tính được tổng lượng nitơ, lưu huỳnh mà con vật thải ra môi trường hàng ngày.
Kết quả thí nghiệm được xử lý thống kê trên phần mềm STAGRAPH version 4.0.
- Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Lượng thức ăn và protein tiêu thụ của lợn thí nghiệm (gam), tỷ lệ tiêu hoá nitơ toàn phần của lợn giai đoạn sinh trưởng (%), lượng nitơ, lưu huỳnh thải ra trong phân và nước tiểu (gam/con/ngày), tính tương quan giữa tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn của lợn thí nghiệm đến đào thải lượng nitơ, lưu huỳnh thải ra trong phân và nước tiểu.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Lượng thức ăn và protein tiêu thụ của lợn thí nghiệm.
            Lượng thức ăn ăn vào của lợn thí nghiệm g/con/ngày) được tính bình quân theo 3 ngày thu phân và nước tiểu của từng đợt. Sau khi lấy mẫu thức ăn của từng khẩu phần trong mỗi đợt thí nghiệm đem phân tích, số liệu về lượng thức ăn và protein tiêu thụ của lợn thí nghiệm trình bày trên bảng 2.
Bảng 2. Lượng thức ăn, protein và lysine tiêu thụ/con/ngày

TT Chỉ tiêu Đơn vị Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4 Lô 5 Lô 6
1                    1. Số lượng lợn TN con 3 3 3 3 3 3
2                    3. Lượng thức ăn tiêu thụ gam/con/ngày 1597,08 ± 52,15 1595,78 ±23,00 1592,11 ± 88,31 1577,78 ± 40,06 1561,11 ± 24,22 1555,56 ± 22,22
3                      So sánh % 100 99,91 99,69 98,79 97,75 97,40
4                      Lượng lysine tiêu thụ gam 17,57 17,55 17,51 15,78 15,61 15,56
5                      Lượng protein tiêu thụ gam 287,47a 271,28a 254,74b 284,00a 265,39a 248,89b
6                    7. So sánh % 100 96,80 88,61 98,79 92,32 86,57

(Trên hàng ngang, các số có cùng số mũ giống nhau thì sự sai khác khong có ý nghĩa thông kê (P>0,05)
Qua bảng 1 cho thấy lượng ăn vào của 6 lô trong thời gian thí nghiệm là không bằng nhau mà giảm đi tới 2,6% so với lô 1 nếu khi giảm cả tỷ lệ protein thô và cả axit amin. Điều đó chứng minh rằng việc bố trí thí nghiệm ở 6 lô đảm bảo được sự đồng đều về các yếu tố thí nghiệm như loại lợn, sức khoẻ, tính phàm ăn…Đây chính là cơ sở ban đầu để đánh giá chính xác hơn ảnh hưởng của việc giảm mức protein khác nhau có cân đối các axit amin thiết yếu ở mức lysine đến lượng protein tiêu thụ của lợn thí nghiệm. Số liệu trong bảng 2 còn cho thấy lượng protein tiêu thụ có sự khác biệt giữa các lô, mức protein ăn vào của lô 1, 2 có sự khác nhau khá lớn với lô 3. Lợn ở lô 1 tiêu thụ 287,47 gam/con/ngày, lô 2 là 271,28 gam/con/ngày và lô 3 là 254,74 gam/con/ngày. Kết quả này của lô 1 và 2 tương đương nhau với 100 và 96,80%  và có sự sai khác thống kê với lô 3 chỉ có 88,61% so với lô 1. Lượng giảm này phù hợp với khẩu phần có mức protein giảm. Tức là khi giữ mức bổ sung các axit amin thiết yếu và giảm protein tổng số từ 18 - 17 -16% thì lượng protein tiêu thụ giảm đi 16,19 gam/con/ngày và 32,73 gam/con/ngày. Mức giảm lượng protein tiêu thụ không rõ ràng lắm khi giữ nguyên mức protein trong khẩu phần chỉ thay đổi mức bổ sung các axit amin thiết yếu với 10 g lysine/kg TĂHH  ở các lô 4,5,6. So sánh giữa lô 4, lô 5 và 6 có sự khác nhau về mức protein trong khẩu phần và cùng mức bổ sung axit amin thiết yếu thì lượng tiêu thụ protein tổng số cũng có chiều hướng giảm so với lô 1. Mức giảm ở lô 4 tương ứng là 3,47 g và 11,29% so với lô 1. Nếu khẩu phần cùng giảm 2% protein và 1g lysine ở lô 6 thì protein tiêu thụ giảm đi còn 13,43% so với lô 1.
Như vậy việc giảm mức protein trong khẩu phần 1% có cân đối axit amin thiết yếu ở cùng mức lysine/kg thức ăn có ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ protein tổng số nhưng không có sai khác thống kê. Khi giảm khẩu phần ăn của lợn thí nghiệm đi 1- 2% protein thô và 1g lysine thì lượng tiêu thụ protein giảm dần khá rõ khi giảm protein tổng số trong khẩu phần từ 7,68 – 13,43% tương ứng ở lô 5,6 so với lô 1.
3.2. Tỷ lệ nitơ  tích lũy của lợn giai đoạn sinh trưởng
Tỷ lệ tiêu hoá protein toàn phần là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng thức ăn, cụ thể là đánh giá chất lượng protein trong khẩu phần. Để xác định được tỷ lệ tiêu hoá nitơ toàn phần ta cần phải căn cứ vào lượng nitơ  trong thức ăn ăn vào và lượng nitơ thải ra trong phân.  Dựa vào lượng tiêu thụ protein tổng số có thể tính được tỷ lệ tiêu hoá nitơ toàn phần thông qua lượng nitơ thải ra qua phân. Tỷ lệ tiêu hoá nitơ toàn phần của lợn thí nghiệm được nuôi bằng khẩu phần có mức protein khác nhau được thể hiện qua bảng 3.
Bảng 3. Tỷ lệ  nitơ  tích lũy của lợn thí nghiệm được nuôi bằng khẩu phần có mức protein khác nhau

STT Chỉ tiêu Đơn vị Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4 Lô 5 Lô 6
1.        Lượng nitơ  ăn vào/ngày g/con/ngày 53,72
±1,01
51,45
±0,91
48,43
± 1,83
50,48
± 1,27
45,87 ±0,94 39,80
± 0,86
2.        So sánh % 100 95,77 90,15 93,96 85,38 74,08
3.        Lượng nitơ thải ra trong phân / ngày g/con/ngày 9,12a
±0,82
8,21bc
±0,52
7,47bc
± 0,26
8,31ab
± 0,73
6,90c
±0,47
6,18cd
± 1,45
  So sánh % 100 90,02 81,91 91,11 75,66 67,76
4.        Lượng nitơ thải ra trong nước tiểu / ngày g/con/ngày 23,83a
±0,72
22,48b
±1,42
20,41cd
± 2,13
22,19ab
± 3,54
18,80c
±3,52
20,41cd
± 2,13
  So sánh % 100 94,33 85,64 93,12 78,89 85,64
5.        Lượng nitơ tích lũy trong cơ thể g/con/ngày 20,77a 20,76a 20,55a 19,98b 20,17a 17,05c
6.      Nitơ tích lũy % so với lượng Ni tơ ăn vào % 38,66 40,35 42,43 39,58 43,97 42,84
7.      So sánh % 100 104,37 109,75 102,37 113,73 110,81

Trên hàng ngang, các chữ số có các chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P> 0,05)
Từ số liệu của bảng 3 ta nhận thấy lượng nitơ ăn vào giữa các lô có sự sai khác, khi  giảm mức protein 1 – 2% trong khẩu phần mà cùng mức lysine 11g/kg TĂHH, lần lượt từ lô 1, 2 đến 3. Cao nhất là lô 1 với 53,72 gam/con/ngày, lô 2, lô 3 và lô 6 lượng nitơ ăn vào thấp hơn với 51,45; 48,43 và 39,80 gam/con/ngày. Lượng  nitơ ăn vào này chỉ bằng 95,77% và 90,15% so với lô 1 (giảm 4,23 và 9,85%). Tương tự như vậy, khẩu phần giảm đi 1-2% protein thô (lô 5, 6)  và giảm đi 1g lysine thì lượng nitơ ăn vào cũng giảm đi tương ứng giảm đi 14,62 - 25,92%.
Lượng nitơ thải ra của các lô cũng giảm cùng với chiều giảm của mức protein tổng số. Như vậy lượng nitơ thải ra qua phân, nước tiểu của lô 2 ; 3 đến lô 6 giảm đáng kể so với lô 1 và sự sai khác có ý nghĩa thống kê với P < 0,05. Có thể thấy rằng khi giảm lượng protein trong khẩu phần đã làm giảm đáng kể lượng nitơ thải ra môi trường. Khi ta sử dụng khẩu phần có mức protein thấp có cân đối một số axit amin thiết yếu thì đã làm giảm ô nhiễm môi trường do giảm lượng nitơ thải ra.
            Tỷ lệ nitơ tích lũy của lô 1 là 38,66%, của lô 2, lô 3 và lô 6 lượng nitơ tích lũy là 40,35%; 42,43%; 42,84% theo thứ tự tương ứng tăng lên. Ta thấy, khi giảm tỷ lệ protein trong thức ăn đã làm tăng tỷ lệ nitơ tích lũy. Cụ thể khi giảm lượng protein từ 18 - 17 - 16% thì đã làm tăng tỷ lệ nitơ tích lũy lên đến từ 4,37 – 9,75%. Nhưng nếu giảm mức protein có bổ sung axit amin ở mức lysine 10g/kg thức ăn trong khẩu phần 16- 17% protein thì  đã làm tăng tỷ lệ nitơ tích lũy  lần lượt là 10,81 – 13,73% so với khẩu phần có mức protein cao (18%) và mức lysine 11 g/kg thức ăn. Như vậy ta có thể thấy ảnh hưởng của tỷ lệ protein trong thức ăn đến tỷ lệ tích lũy nitơ toàn phần  là rất đáng chú ý. Tỷ lệ tích lũy ni tơ toàn phần tăng lên 10,81% khi giảm mức protein trong thức ăn từ 18% - 16% với khẩu phần có cân đối một số axit amin thiết yếu.  Đây là cơ sở để chúng ta có thể giảm lượng protein trong thức ăn mà vẫn đem lại hiệu quả  cao.
            Kết quả trên phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bạch Trà, Đặng Quang Điện, Lưu Trọng Hiếu (1995)[9] khi nghiên cứu ảnh hưởng của các mức protein và bổ sung L - lysine, DL - Methionine trong thức ăn đến sự tăng trưởng của heo thịt cho biết tỷ lệ tiêu hoá protein ở các nhóm bổ sung axit amin cao hơn nhóm không bổ sung là 1,3%.
Các nghiên cứu mới đây của trường Đại học Kentucky - Mỹ cũng đã chứng minh được kết quả tương tự: Việc đào thải nitơ đã giảm 15 - 20% khi giảm đi 2% protein tổng số của khẩu phần có bổ sung thêm lysine, và lượng nitơ đào thải giảm đi 30 - 35% khi giảm 4% protein tổng số và bổ sung thêm 4 axit amin.
Kết quả trên phù hợp với kết quả nghiên cứu của Otto và cs (2003)[5] nghiên cứu về ảnh hưởng của khẩu phần giảm mức protein đến việc sử dụng và đào thải nitơ cũng như khả năng tiêu hoá axit amin của lợn sinh trưởng, thấy rằng lượng nitơ thải ra trong phân chỉ chiếm một phần nhỏ, phần lớn nitơ thải ra có nguồn gốc từ nước tiểu.
            Các tác giả Philippe và cs (2006)  đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc giảm tỷ lệ protein của khẩu phần đến khí thải chuồng nuôi đối với nuôi lợn thịt. Với khẩu phần thí nghiệm có mức protein cao (lô HP) và khẩu phần có mức protein thấp được cân đối các axit amin (lô LP). Lượng nitơ ăn vào của lợn là 6,83 kg và 5,78 kg/con. Kết quả thí nghiệm cho thấy lượng nitơ thải ra của lô có tỷ lệ protein thấp ít hơn so với lô có tỷ lệ protein cao (trung bình là 1,84 và 1,56 kg nitơ/con tương ứng với lô HP và lô LP). Như vậy nghiên cứu trên cũng có cùng kết quả với kết quả  thí nghiệm của chúng tôi.
3.2 Mối tương quan giữa lượng nitơ thải ra trong phân và nước tiểu với các mức protein trong thức ăn.
            Để xác định mối tương quan giữa lượng nitơ thải ra trong phân và nước tiểu của lợn giai đoạn sinh trưởng với việc giảm tỷ lệ protein trong khẩu phần, chúng tôi tiến hành tính toán phương trình hồi quy và hệ số tương quan giữa hai đại lượng này. Kết quả tính toán được trình bày trên bảng 4.
Bảng 4. Phương trình tương quan giữa lượng nitơ thải ra qua phân, nước tiểu (Y,g/con/ngày) và tỷ lệ protein trong khẩu phần (X, %)

Mức axit amin tính theo lysine (g/kg TA) Phương trình tương quan Hệ số tương quan
1. Lượng nitơ trong phân
11 Y1 = 1,230 X1 -13,026 0,74
10 Y2 = 1,450 X2 -12,453 0,92
2. Lượng nitơ trong nước tiểu
11 Y3 = 2,380 X3 -18,759 0,61
10 Y4 = 3,368 X4 - 38,255 0,93

Ghi chú: Miền xác định mức lysine ứng với các tỷ lệ protein  18 - 17 - 16% là: 11 và 10 g/kg thức ăn
            Bảng 4 cho thấy phương trình hồi quy giữa lượng nitơ thải ra với các tỷ lệ protein khác nhau trong khẩu phần với 2 mức lysine có hệ số tương quan dương. Cho nên khi ta giảm tỷ lệ protein trong khẩu phần, đã làm giảm lượng nitơ thải ra ở lợn thí nghiệm. Tuy nhiên giá trị của hệ số tương quan tương đối cao, cho thấy mức độ tương quan có bị ảnh hưởng. Nhưng qua đó chúng ta cũng nhận thấy rằng, trong khoảng thí nghiệm của việc giảm tỷ lệ protein trong thức ăn (từ 18% - 17% - 16%) và giảm cả lysine, tỷ lệ tiêu hoá nitơ của lợn có chiều hướng tăng lên. Đây chính là vấn đề quan trọng, là sở cứ để chúng ta có thể giảm tỷ lệ protein trong thức ăn trên cơ sở bổ sung thêm các axit amin tổng hợp nhằm tiết kiệm thức ăn đạm.
            Về vấn đề này, các tác giả Thong và Liebert (2004)[7] khi đánh giá sự thay đổi của việc sử dụng lysine trong các mức protein khác nhau đối với lợn sinh trưởng thấy rằng hiệu suất sử dụng lysine khác nhau trong các khẩu phần có mức protein khác nhau.
3.3. Tỷ lệ lưu huỳnh thải ra trong phân và nước tiểu
             Lưu huỳnh là một trong những nguyên tố hình thành nên các khí độc như H2S, SO2 ... Lưu huỳnh có trong các axit amin thiết yếu methionine và cystine sau quá trình chuyển hoá trong cơ thể được thải ra ngoài môi trường qua phân và nước tiểu. Lượng lưu huỳnh thải ra qua phân trong thí nghiệm được biểu diễn thông qua bảng 5.
            Từ số liệu của bảng 5 ta thấy lượng lưu huỳnh ăn vào của các lô là tương đương nhau chỉ chênh nhau rất nhỏ: Thấp nhất là lô 3 với 4,6gam/con/ngày và cao nhất là lô 1 với 4,65 gam/con/ ngày thấp nhất lô 6 là 4,12 g/con/ngày tức giảm 11,40% so với lô 1.
            Lượng lưu huỳnh thải ra trong phân có sự thay đổi không rõ ràng, sự biến động thấp từ 1,04 - 1,23 gam/con/ngày. Tuy nhiên nếu giảm khẩu phần đi protein 1 -2 % và giảm 1 gam lysine (lô 5, 6) thì lượng lưu huỳnh giảm đi trong phân có sự sai khác đáng kể với P<0,05, tương ứng giảm đi lượng lưu huỳnh ra ngoài môi trường là 13,82 – 15,45%. Mặt khác thí nghiệm cũng  nhận thấy lượng lưu huỳnh cũng giảm đi trong nước tiểu từ 11,48 - 12,25%. Như vậy lượng lưu huỳnh thải ra qua phân, nước tiểu của lô 1 là cao nhất, thấp nhất là lô 6 và sự sai khác này khá rõ ràng giữa khẩu phần có tỷ lệ protein giảm đi từ 1-2% và lysine giảm đi 1 g/ kg thức ăn với P< 0,05.
Bảng 5. Lượng lưu huỳnh (S) thải ra trong phân và nước tiểu của lợn thí nghiệm nuôi bằng các khẩu phần có các mức protein khác nhau

Chỉ tiêu Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4 Lô 5 Lô 6
1. Lượng lưu huỳnh ăn vào (g/con) 4,65
±0,36
4,63
±0,19
4,60
±0,43
4,16
±0,39
4,13
±0,53
4,12
±0,06
So sánh (%) 100 99,56 98,92 89,46 88,81 88,60
3. Lượng lưu huỳnh thải ra trong phân (g/con/ngày) 1,23a
±0,05
1,20a
±0,07
1,19a
±0,07
1,09a
±0,09
1,06b
±0,17
1,04b
±0,08
 So sánh (%) 100 97,56 96,75 88,89 86,18 84,55
4. Lượng lưu huỳnh thải ra trong nước tiểu (g/con/ngày) 3,05a
±0,11
3,04a
±0,19
3,00ab
±0,26
2,67ab
±0,50
2,70b
±0,31
2,70b
±0,49
 So sánh (%) 100 99,67 98,36 87,75 88,52 88,52
5. Lượng S tích lũy trong cơ thể (g/con/ngày) 0,37b 0,39ab 0,41a 0,40a 0,37b 0,38b
6. S tích lũy % so với lượng S ăn vào (%) 7,96 8,42 8,91 9,85 8,96 9,22
So sánh (%) 100 105,77 111,93 123,74 112,56 115,82

Trên hàng ngang, các chữ số có các chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P> 0,05)
            Như vậy có thể thấy rằng mức độ sai khác giữa tỷ lệ lưu huỳnh thải ra trong phân của các khẩu phần có giảm mức protein 1% là không rõ ràng, nhưng đến 2% sự sai khác là tương đối rõ nét với P< 0,05 (lô 5, lô 6). Lượng lưu huỳnh thải ra của các khẩu phần 17 - 16% protein có bổ sung axit amin thiết yếu ở mức cao 11 g/kg thức ăn và khẩu phần 18% protein bổ sung mức axit amin 10 g/kg thức ăn là tương đương nhau. Có kết quả này có thể là do việc cân đối hàm lượng các axit amin có chứa lưu huỳnh trong tất cả các khẩu phần tương đương nhau. Vì vậy không có sự sai khác về đào thải lưu huỳnh giữa các khẩu phần (lô 1, 2, 3 và lô 4).
            Mức độ lượng lưu huỳnh thải ra qua phân có giảm đi ở khẩu phần giảm tỷ lệ protein 18-17-16% cùng mức lysine 11 g/kg thức ăn lần lượt giảm đi từ 2,44 – 3,25% so với lô 1. Nhưng khi khẩu phần có mức lysine 10 g/kg thức ăn, tương ứng giảm tỷ lệ protein thô khẩu phần (lô 5, 6) thì mức độ lưu huỳnh thải qua phân ra môi trường ra khá cao từ 13,82 – 15,45% so với lô 1.
                Tương tự khi so sánh mức độ giảm của lượng lưu huỳnh trong nước tiểu của các lô có mức protein giảm khác nhau so với nhau ta thấy, so với lô 1 thì lượng lưu huỳnh thải ra qua nước tiểu của lô 2 và lô 3 chỉ là 0,33 và 1,64%.  Thí nghiệm cũng cho thấy rằng khi giảm 1 gam lysine trong khẩu phần thì lượng lưu huỳnh giảm đi 12,25% (lô 4), nhưng vừa giảm 1g lysine và giảm tiếp 1 -2 % protein thô trong khẩu phần thì cũng giảm lượng lưu huỳnh trong nước tiểu ra ngoài môi trường là 11,48 % (lô 5, 6) so với lô 1 đối với lợn ngoại nuôi ở giai đoạn sinh trưởng.
            Kết quả số liệu bảng 5 cho ta thấy lượng lưu huỳnh thải ra qua nước tiểu lớn hơn lượng thải ra qua phân (trong nước tiểu từ 2,67 – 3,05 gam/con/ngày so với trong phân từ 1,04 – 1,23 gam/con/ngày). Như vậy việc giảm lượng protein trong khẩu phần có cân đối một số axit amin thiết yếu có ảnh hưởng đến tỷ lệ lưu huỳnh thải ra qua phân và nước tiểu, tuy nhiên lượng giảm này chỉ có ý nghĩa thống kê với P < 0,05 khi đồng thời vừa giảm protein và giảm axit amin trong khẩu phần.
3.4 Mối tương quan giữa lượng lưu huỳnh thải ra qua phân và nước tiểu và các mức protein trong thức ăn.
Bảng 6. Phương trình tương quan giữa lượng lưu huỳnh thải ra qua phân và nước tiểu (Y,g/con/ngày) và tỷ lệ protein trong khẩu phần (X, (%))

Mức axit amin tính theo lysine (g/kg TA) Phương trình hồi quy Hệ số tương quan
1. Lượng lưu huỳnh trong phân
11 Y5 = 0,023 X5 + 0,809 0,20
10 Y6 = 0,025 X6 + 0,639 0,15
2. Lượng lưu huỳnh trong nước tiểu
11 Y7 = 0,025 X7 + 2,604 0,43
10 Y8 = -0,017 X8 + 2,976 - 0,04

Ghi chú: Miền xác định mức lysine ứng với các tỷ lệ protein  18 - 17 - 16% là: 11 và  10 g/kg thức ăn
Kết quả tính toán hệ số tương quan giữa lượng lưu huỳnh thải ra qua phân và nước tiểu và tỷ lệ protein trong khẩu phần cho thấy giá trị của hệ số tương quan không cao (Từ - 0,15 đến 0,20 đối với lượng lưu huỳnh thải ra trong phân; từ - 0,04 đến 0,43 đối với lượng lưu huỳnh thải ra trong nước tiểu, Bảng 6). Như vậy, thí nghiệm cho thấy lượng lưu huỳnh thải ra trong phân và nước tiểu ít phụ thuộc vào tỷ lệ protein trong khẩu phần.
Điều này chứng tỏ rằng, lượng lưu huỳnh thải ra trong phân và nước tiểu  phụ thuộc nhiều vào mức axit amin chứa lưu huỳnh (TSS) của khẩu phần. Knowles và cs (1998) cũng đã nghiên cứu vấn đề này.
4. KẾT LUẬN
Từ các kết quả thu được ở trên cho phép kết luận:
1. Khi giảm khẩu phần ăn của lợn thí nghiệm đi 1- 2% protein thô và 1g lysine thì lượng tiêu thụ protein giảm dần khá rõ  từ 7,68 – 13,43%.
2. Khi giảm tỷ lệ protein trong khẩu phần từ 18 - 17 - 16%, có cân đối một số axit amin ở mức lysine 11g/kg thức ăn thì tỷ lệ nitơ tích lũy tăng lên từ 4,37 – 9,75%, nhưng nếu ở mức lysine 10 g/ kg thức ăn thì tỷ lệ tiêu hóa nitơ còn tăng lên đến 10,81 – 13,73%.
            3. Khi giảm tỷ lệ protein trong thức ăn mà vẫn cân đối một số axit amin thiết yếu thì tỷ lệ đào thải nitơ trong phân và nước tiểu giảm rõ rệt. Mức độ giảm từ 8,56% đến 23,76% trong phân và từ 9,67% đến 18,14% trong nước tiểu. Đồng thời giảm mức độ đào thải lưu huỳnh qua phân ra môi trường ra khá cao từ 13,82 – 15,45% và qua nước tiểu là 11,48 – 12,25%.
            4. Trong chăn nuôi lợn ngoại hiện nay cần sử dụng khẩu phần protein hợp lý có cân đối một số axit amin thiết yếu sẽ làm giảm đào thải nitơ và lưu hu

Tác giả bài viết: Bùi Thị Thơm